115 năm trước, ngày 5-6-1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc ra đi ấy mở đầu hành trình vĩ đại đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ đến độc lập, tự do; từ mất nước đến làm chủ vận mệnh mình.
Nhìn lại sự kiện này không chỉ là tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, mà còn là dịp khẳng định một chân lý: Khi lòng yêu nước được soi sáng bằng trí tuệ, khi ý chí độc lập dân tộc gắn với khát vọng hạnh phúc của nhân dân, thì dân tộc Việt Nam có thể vượt qua mọi thử thách, làm nên những kỳ tích mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một cuộc ra đi vì độc lập dân tộc, tự do của nhân dân
Trong lịch sử mỗi dân tộc, có những thời khắc tưởng như rất lặng lẽ nhưng lại mở ra cả một chân trời. Ngày 5-6-1911 là một thời khắc như thế. Từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Amiral La Touche De Tréville, bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước. Người ra đi khi đất nước còn chìm trong đêm dài nô lệ, khi nhân dân lầm than, khi nhiều phong trào yêu nước dù rất anh dũng nhưng chưa tìm được con đường đúng để giải phóng dân tộc.
Điều làm nên tầm vóc lớn lao của cuộc ra đi ấy không chỉ là lòng yêu nước. Lòng yêu nước đã từng cháy trong bao thế hệ người Việt Nam, từ những cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm đến phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân. Nhưng ở Nguyễn Tất Thành, lòng yêu nước ấy được nâng lên thành tầm nhìn thời đại. Người không chỉ đau với nỗi đau mất nước, Người còn trăn trở tìm căn nguyên của sự mất nước, tìm lời giải cho câu hỏi lớn nhất của dân tộc lúc bấy giờ: Làm thế nào để nước Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Bác ra đi không phải để tìm một con đường riêng cho bản thân, mà để tìm một con đường chung cho dân tộc. Người đi ra thế giới để hiểu thế giới; sống giữa những người lao động nghèo khổ để hiểu nỗi đau của những con người bị áp bức; quan sát các cuộc cách mạng, các mô hình xã hội, các trào lưu tư tưởng để tìm ra con đường phù hợp nhất với hoàn cảnh Việt Nam. Vì vậy, cuộc ra đi ngày 5-6-1911 là cuộc ra đi của một trái tim yêu nước, nhưng cũng là cuộc ra đi của một trí tuệ lớn, một bản lĩnh lớn, một niềm tin lớn vào sức mạnh của nhân dân.
Từ Bến Nhà Rồng đến Quảng trường Ba Đình năm 1945 là hành trình của 34 năm bôn ba, tìm tòi, khảo nghiệm, tổ chức, lãnh đạo, hy sinh và chiến đấu. Đó cũng là hành trình kết tinh ý chí của cả dân tộc Việt Nam. Dưới ánh sáng con đường mà Người tìm thấy, nhân dân ta đã đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Từ đó, dân tộc ta tiếp tục đi qua những cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh bại những kẻ thù xâm lược hùng mạnh, thống nhất non sông, bảo vệ biên cương, làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, rồi bước vào công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Trong toàn bộ hành trình ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam - đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu - luôn là lực lượng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Nhìn từ truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, cuộc ra đi của Bác càng mang ý nghĩa sâu sắc. Bởi Bác không chỉ tìm đường cứu nước, mà còn đặt nền móng tư tưởng, chính trị, đạo đức cho lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Người dạy rằng Quân đội ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Sức mạnh của quân đội không chỉ ở vũ khí, trang bị, kỹ thuật, mà trước hết ở lý tưởng, bản lĩnh, kỷ luật, lòng trung thành và mối quan hệ máu thịt với nhân dân.
Đó là giá trị còn nguyên vẹn trong hôm nay. Trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược gay gắt, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ biên giới, biển đảo, vùng trời, vùng biển, mà còn là bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ niềm tin của Nhân dân, bảo vệ môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Từ cuộc ra đi của Bác, chúng ta càng hiểu rằng độc lập dân tộc luôn là giá trị thiêng liêng nhất; tự chủ chiến lược là điều kiện sống còn; và thế trận lòng dân là nền tảng vững chắc nhất của mọi chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong bài viết “Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi” đã nhấn mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh là “nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Nhận định ấy gợi cho chúng ta một suy nghĩ rất sâu sắc: Càng bước vào những khúc quanh mới của thời đại, càng phải trở về với những giá trị căn cốt mà Hồ Chí Minh đã để lại; càng phát triển, càng hội nhập, càng hiện đại hóa, chúng ta càng phải giữ vững mục tiêu vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Tiếp tục “tìm đường” để dựng xây và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
Kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh hôm nay, chúng ta không chỉ nhìn về quá khứ bằng lòng biết ơn. Chúng ta còn nhìn về tương lai bằng trách nhiệm. Nếu thế hệ của Bác phải tìm con đường giành độc lập, thì thế hệ hôm nay phải tiếp tục tìm con đường phát triển đất nước nhanh hơn, bền vững hơn, hùng cường hơn, nhân văn hơn. Nếu câu hỏi lớn của năm 1911 là làm sao để dân tộc thoát khỏi ách nô lệ, thì câu hỏi lớn của năm 2026 là làm sao để Việt Nam không tụt hậu, không rơi vào bẫy thu nhập trung bình, không đánh mất bản sắc trong hội nhập, không bị động trước những biến động khó lường của thế giới.
Đất nước ta hôm nay đã có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế rất lớn. Nhưng hành trình phía trước vẫn đặt ra nhiều thách thức. Muốn tăng trưởng cao và bền vững, chúng ta không thể chỉ dựa vào vốn đầu tư, tài nguyên, lao động giá rẻ hay những lợi thế truyền thống. Muốn bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, chúng ta không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự đơn thuần, mà phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu rất mới trong tư duy phát triển: “Không thể coi nguồn lực là cái có sẵn, hữu hạn, tĩnh, chỉ để phân chia. Nguồn lực phải được kiến tạo, làm giàu, kết nối và nhân lên”. Đây không chỉ là một chỉ đạo về kinh tế, mà còn là một thông điệp về bản lĩnh quốc gia trong thời đại mới. Một dân tộc muốn vươn lên phải biết biến con người thành nguồn lực lớn nhất, biến văn hóa thành sức mạnh mềm, biến khoa học công nghệ thành động lực, biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh, biến niềm tin xã hội thành sức mạnh đoàn kết.
Tinh thần “tìm đường” của Bác vì vậy phải được tiếp tục trong mọi lĩnh vực của đời sống đất nước hôm nay. Trong phát triển kinh tế, đó là dám đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, làm chủ công nghệ lõi, phát triển công nghiệp hiện đại, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế sáng tạo. Trong xây dựng Nhà nước, đó là dám tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Trong văn hóa, đó là biết giữ hồn cốt dân tộc trong làn sóng toàn cầu hóa, biến di sản, bản sắc, sáng tạo thành nguồn lực phát triển. Trong quốc phòng, an ninh, đó là xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chủ động thích ứng với các hình thái chiến tranh mới, không gian mạng, không gian vũ trụ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh phi truyền thống.
Với Quân đội nhân dân Việt Nam, học Bác hôm nay trước hết là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh. Nhưng trong kỷ nguyên mới, phẩm chất ấy cần được thể hiện bằng năng lực mới: Năng lực làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại; năng lực tác chiến trong môi trường công nghệ cao; năng lực phối hợp quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với đối ngoại, quốc phòng với văn hóa; năng lực tham gia gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, ứng phó thiên tai, bảo vệ nhân dân trước mọi nguy cơ.
Bảo vệ Tổ quốc hôm nay cũng là bảo vệ từng tấc đất, sải biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc; bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông; bảo vệ biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; bảo vệ an ninh con người; bảo vệ không gian văn hóa Việt Nam trước những luồng thông tin độc hại, xuyên tạc, chia rẽ; bảo vệ thế hệ trẻ trước nguy cơ phai nhạt lý tưởng, lệch chuẩn giá trị. Đó là cuộc đấu tranh không tiếng súng nhưng không kém phần cam go. Và trong cuộc đấu tranh ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh vẫn là nền tảng để xây dựng bản lĩnh chính trị, sức đề kháng văn hóa và niềm tin xã hội.
Mỗi người Việt Nam hôm nay đều có một “Bến Nhà Rồng” của riêng mình. Đó là thời điểm lựa chọn dấn thân thay vì thờ ơ, cống hiến thay vì hưởng thụ, trách nhiệm thay vì vô cảm, sáng tạo thay vì đi theo lối mòn. Với người chiến sĩ, “Bến Nhà Rồng” là giây phút nhận nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, nơi gian khó nhất của Tổ quốc. Với người trí thức, đó là sự kiên trì tìm tòi tri thức mới để phụng sự đất nước. Với doanh nhân, đó là quyết tâm làm ra sản phẩm Việt Nam có chất lượng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh toàn cầu. Với cán bộ, công chức, đó là thái độ tận tụy, liêm chính, gần dân, trọng dân, phục vụ dân. Với thanh niên, đó là khát vọng học tập, làm chủ công nghệ, làm chủ tương lai.
Một quốc gia hùng cường không chỉ được xây bằng những công trình lớn, mà còn bằng hàng triệu con người có lý tưởng lớn. Một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh không chỉ dựa vào vũ khí hiện đại, mà còn dựa vào lòng dân yên, xã hội đồng thuận, văn hóa bền vững, kinh tế mạnh, chính trị ổn định, thế trận nhân dân rộng khắp. Một dân tộc muốn đi xa không thể thiếu ký ức lịch sử; nhưng càng không thể thiếu khát vọng tương lai.
Kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, điều thiêng liêng nhất không chỉ là nghiêng mình trước quá khứ, mà là tiếp tục lên đường trong hiện tại. Lên đường để đổi mới mạnh mẽ hơn. Lên đường để phụng sự nhân dân tốt hơn. Lên đường để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng vững mạnh, hiện đại, xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Lên đường để văn hóa soi sáng phát triển, để khoa học công nghệ mở ra động lực mới, để mỗi nguồn lực của đất nước được khơi thông, kết nối và nhân lên.
Từ Bến Nhà Rồng năm 1911 đến Việt Nam hôm nay là hành trình của một dân tộc không chịu khuất phục. Từ Việt Nam hôm nay đến Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc mai sau sẽ là hành trình của một dân tộc biết tiếp tục đổi mới, sáng tạo, tự cường và đoàn kết. Trên hành trình ấy, ánh sáng Hồ Chí Minh vẫn soi đường; phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vẫn tỏa sáng; thế trận lòng dân vẫn là thành trì vững chắc và khát vọng Việt Nam hùng cường vẫn đang thôi thúc mỗi người chúng ta sống xứng đáng hơn, làm việc tận tụy hơn, cống hiến nhiều hơn cho Tổ quốc thân yêu.
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chỉ thị nêu rõ, qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu; chưa chú trọng đúng mức việc thực hành và vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ nhân dân. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Việc học tập, thực hành theo Bác phải gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ và phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân; thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tôn trọng, lắng nghe và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân; góp phần xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Thứ hai, gắn việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và trách nhiệm thực thi công vụ văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên; cốt lõi là vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; tập trung tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển. Thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thứ ba, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Trung ương Đảng. Thứ tư, đổi mới công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng hệ thống dữ liệu, học liệu số phục vụ việc học tập, thực hành theo Bác. Đồng thời, tập trung nghiên cứu, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của Di sản Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới; nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tăng cường kỷ luật phát ngôn và văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng. Thứ năm, chuyển mạnh việc kiểm tra, giám sát từ xây dựng kế hoạch, đăng ký sang đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc, mức độ hài lòng của nhân dân và những chuyển biến thực tế trong đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, gắn với thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trì trệ. Về tổ chức thực hiện, chỉ thị yêu cầu lấy kết quả thực hiện cam kết làm căn cứ đánh giá, xếp loại đảng viên và quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Ban Tổ chức Trung ương bổ sung tiêu chí học tập, thực hành theo Bác vào khung đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm; coi đây là tiêu chí quan trọng trong công tác cán bộ. Theo SGGP Info: TTXVN
(Chinhphu.vn) - Ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa VI quyết định đổi tên Sài Gòn-Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một cột mốc lịch sử đặc biệt sau ngày đất nước thống nhất. Từ thời khắc ấy, tên gọi "Thành phố mang tên Bác" là niềm vinh dự lớn lao, là một cam kết phát triển: Đi đầu trong đổi mới, hội nhập, sáng tạo, nghĩa tình và phụng sự nhân dân.. Được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào thiêng liêng đồng nghĩa với việc Thành phố mang trên mình sứ mệnh đi đầu trong đổi mới, sáng tạo, hội nhập và phát triển. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Sài Gòn-Gia Định chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Báo Điện tử Chính phủ ghi nhận những chia sẻ của các chuyên gia, diễn giả, đại diện doanh nghiệp (ở nhiều lĩnh vực) - những người đã đồng hành cùng sự phát triển của Thành phố trong 50 năm qua. Năm mươi năm nhìn lại, TPHCM đã khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế, trung tâm đổi mới sáng tạo và đô thị năng động bậc nhất cả nước. Nhưng dấu mốc 50 năm cũng mở ra một câu hỏi lớn hơn: Trong không gian phát triển mới, Thành phố cần làm gì để chuyển từ vị thế trung tâm kinh tế quốc gia thành một siêu đô thị có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế? Bài 1: Từ tên gọi lịch sử đến tinh thần tiên phong Việc Thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh là một quyết định có ý nghĩa chính trị, lịch sử và tinh thần đặc biệt. Đó là biểu tượng thiêng liêng của khối đại đoàn kết dân tộc, của nền độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước. Nhưng với TPHCM, tên gọi ấy còn hàm chứa một trách nhiệm phát triển rất cụ thể: Phải là nơi đi đầu trong đổi mới, dám thử nghiệm cái mới, dám tháo gỡ những rào cản cũ và tạo ra động lực cho cả nước. Nhìn lại nửa thế kỷ qua, có thể thấy tinh thần tiên phong là một trong những phẩm chất tiêu biểu và bền bỉ nhất của Thành phố. Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, TPHCM là một trong những địa phương mạnh dạn thử nghiệm các mô hình phát triển kinh tế mới, góp phần hình thành những tiền đề quan trọng cho quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, tinh thần "dám nghĩ, dám làm" của Thành phố không chỉ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là ở khả năng biến những yêu cầu thực tiễn thành sáng kiến, chính sách, mô hình quản trị mang tính lan tỏa. Nói cách khác, TPHCM không chỉ lớn lên nhờ quy mô dân số, vị trí địa lý hay sức hút đầu tư, mà còn nhờ năng lực mở đường và khả năng tổ chức các nguồn lực xã hội cho phát triển. Những dấu ấn của một đô thị dám mở đường Một trong những dấu ấn nổi bật nhất của TPHCM là vai trò tiên phong trong việc hình thành các mô hình phát triển mới. Thành phố không chỉ là nơi thử nghiệm những cách làm đột phá, mà còn là "cái nôi" của tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, từ đó tạo ra nhiều mô hình có sức lan tỏa trên phạm vi cả nước. Tiêu biểu là Khu chế xuất Tân Thuận (ra đời năm 1991) - khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam, mở đường cho quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp xuất khẩu và trở thành mô hình kiểu mẫu đầu tiên để từ đó nhân rộng ra hàng trăm khu chế xuất, khu công nghiệp trên khắp cả nước. Tiếp đó, Khu Công nghệ cao TPHCM, Công viên phần mềm Quang Trung và Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM lần lượt trở thành những thiết chế quan trọng trong quá trình hình thành kinh tế tri thức, kinh tế số và thị trường vốn hiện đại tại Việt Nam. Những dấu mốc ấy cho thấy TPHCM không chỉ phát triển bằng quy mô, mà bằng khả năng kiến tạo các nền tảng mới cho nền kinh tế. Từ một đô thị chịu nhiều tổn thất sau chiến tranh, Thành phố đã vươn lên trở thành cực tăng trưởng lớn nhất cả nước. Trong không gian phát triển mới, quy mô kinh tế của TPHCM tiếp tục khẳng định vai trò là đầu tàu của cả nước. Theo các số liệu về kinh tế TPHCM công bố năm 2025, GRDP của Thành phố đạt khoảng 3,03 triệu tỷ đồng, chiếm 23,5% GDP cả nước; thu ngân sách ước đạt hơn 746.000 tỷ đồng; vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8,9 tỷ USD. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, những đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội, mà còn cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của TPHCM đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Cùng với kinh tế, diện mạo đô thị Thành phố cũng đã có những thay đổi sâu sắc. Các vùng đất hoang hóa, sình lầy ngày nào đã trở thành các khu đô thị hiện đại; những công trình như đại lộ Võ Văn Kiệt, đại lộ Mai Chí Thọ, đường Nguyễn Văn Linh, hầm Thủ Thiêm, cầu Phú Mỹ, cầu Thủ Thiêm và tuyến Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên đã góp phần định hình một diện mạo đô thị mới. Hạ tầng không chỉ kết nối không gian, mà còn mở ra những cơ hội phát triển mới cho doanh nghiệp và người dân. Một nét văn hóa bền bỉ làm nên bản sắc của Thành phố mang tên Bác trong nửa thế kỷ qua là tinh thần nghĩa tình. Thành phố phát triển năng động, cạnh tranh và hội nhập, nhưng đồng thời luôn duy trì truyền thống sẻ chia, bao dung và hướng đến những nhóm yếu thế, trong đó chương trình "Xóa đói giảm nghèo" được Thành phố triển khai từ năm 1992 là một dấu ấn tiêu biểu. Từ một sáng kiến địa phương, chương trình đã tạo tác động xã hội sâu rộng, góp phần giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và được Trung ương nhân rộng thành chương trình quốc gia. Tinh thần ấy làm nên một bản sắc rất riêng của TPHCM: Năng động trong phát triển, nghĩa tình trong ứng xử với con người. Không gian phát triển mới và yêu cầu quản trị hiện đại Bước vào cột mốc 50 năm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, TPHCM đang đứng trước một giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt. Từ ngày 1/7/2025, với không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố có quy mô hơn 6.700 km², dân số hơn 14 triệu người và hội tụ đồng thời các lợi thế về dịch vụ, công nghiệp, cảng biển, logistics, kinh tế biển, tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này đặt ra một yêu cầu hoàn toàn mới: TPHCM không thể chỉ quản trị như một đô thị lớn theo nghĩa truyền thống, mà phải vận hành như một siêu đô thị đa cực, đa chức năng và có năng lực kết nối khu vực. Trong cấu trúc ấy, khu vực lõi đô thị giữ vai trò trung tâm tài chính - dịch vụ - đổi mới sáng tạo; các cực công nghiệp và công nghệ tạo nền tảng sản xuất hiện đại; hệ thống cảng biển, logistics và kinh tế biển mở rộng năng lực kết nối quốc tế; còn hạ tầng số và dữ liệu trở thành xương sống cho quản trị thông minh. Để giữ vững vai trò đầu tàu và vươn lên tầm vóc cao hơn, bài toán lớn nhất của TPHCM hiện nay không chỉ là khai thác các lợi thế sẵn có, mà là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Nói cách khác, Thành phố cần chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng quy mô sang phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khả năng huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội là một bước mở quan trọng về thể chế, trao cho TPHCM không gian chủ động lớn hơn trong đầu tư, tài chính - ngân sách, quản lý đô thị, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tổ chức bộ máy. Giá trị lớn nhất của Nghị quyết 98/2023/QH15 không chỉ nằm ở các cơ chế cụ thể, mà ở thông điệp: Muốn đầu tàu tăng tốc thì phải có đường ray thể chế tương xứng. Song hành với cơ chế đặc thù là yêu cầu đổi mới mô hình quản trị đô thị. Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp, sau giai đoạn đầu triển khai, cho thấy hướng chuyển động quan trọng: Tinh gọn tầng nấc trung gian, rút ngắn quy trình xử lý công việc, tăng quyền chủ động cho cơ sở và đưa chính quyền đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải biến cải cách hành chính thành cải cách năng lực phục vụ, để chính quyền không chỉ "giải quyết hồ sơ" mà còn đồng hành với sự phát triển của người dân và doanh nghiệp. Trong không gian phát triển mới, hạ tầng liên vùng không chỉ giải quyết bài toán giao thông, mà còn tái cấu trúc toàn bộ logic tăng trưởng của Thành phố. Khi các trục kết nối giữa đô thị lõi, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cảng biển, sân bay, logistics và trung tâm dịch vụ được vận hành hiệu quả, các dòng chảy hàng hóa, lao động, dữ liệu, vốn và tri thức sẽ được kết nối tốt hơn, tạo động lực mới cho tăng trưởng. Link tham khảo: TS. Nguyễn Hoàng Lê Viện trưởng Viện Phát triển Nguồn nhân lực và Kinh doanh Đại học Kinh tế TPHCM
KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM (20/11/1982 - 20/11/2025) Ngày 18/11, đại diện lãnh đạo Đảng ủy - UBND - UBMTQ phường Tân Định đến thăm và chúc mừng các nhà giáo và cán bộ quản lý Trung tâm Chính trị phường Cầu Ông Lãnh
Ban Chấp hành Trung ương thảo luận đề án sửa đổi, bổ sung quy định thi hành Điều lệ Đảng cùng nhiều nội dung về xây dựng Đảng, đổi mới mô hình phát triển và hoàn thiện thể chế. Theo thông cáo của Văn phòng Trung ương Đảng phát chiều 21/7, buổi sáng, dưới sự điều hành của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Hội nghị Trung ương 3 khóa 14 họp toàn thể tại hội trường, thảo luận 4 nội dung. Trước hết là dự thảo Quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa 14 về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định 37 năm 2021. Trung ương cũng cho ý kiến về đề án sửa đổi, bổ sung Quy định 20 năm 2026 về thi hành Điều lệ Đảng; Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Đề án sơ kết Nghị quyết 18 năm 2022 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, gắn với quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật liên quan. Buổi chiều, Trung ương làm việc tại tổ, thảo luận Đề án tổng kết Nghị quyết 36 năm 2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Đề án tổng kết Nghị quyết 24 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Ngày mai, Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục ngày làm việc thứ ba. Việc sửa đổi, bổ sung quy định thi hành Điều lệ Đảng là bước chuẩn bị cho quá trình sửa đổi Điều lệ Đảng dự kiến trình Đại hội 15. Tại phiên bế mạc Đại hội 14 hồi tháng 1, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cho biết Ban Chấp hành Trung ương khóa 13 đã tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng và tiếp nhận gần 4,2 triệu lượt ý kiến góp ý. Hầu hết ý kiến thống nhất với dự thảo báo cáo tổng kết, đồng thời đề nghị nghiên cứu bổ sung, sửa đổi một số nội dung của Điều lệ Đảng. Đại hội 14 giao Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa 14 chỉ đạo Tiểu ban Điều lệ Đảng tiếp thu tối đa ý kiến của đại biểu, hoàn thiện báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng và xây dựng định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ ngay sau Đại hội 14; đồng thời nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh chính trị để trình Đại hội 15. Link tham khảo
Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra trọng thể tại TP.HCM với sự tham dự của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng nhiều lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Sáng 2.7, trong không khí trang trọng tại Hội trường Thống Nhất, TP.HCM tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ. Cùng dự buổi lễ có nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, nguyên Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cùng các Ủy viên Bộ Chính trị, các nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đại biểu TP.HCM tham dự có Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang cùng các lãnh đạo trong Ban Thường vụ Thành ủy, nguyên lãnh đạo thành phố qua các thời kỳ. Buổi lễ còn có sự hiện diện của các Mẹ Việt Nam Anh hùng, người có công, đại diện chức sắc tôn giáo, kiều bào, các cơ quan lãnh sự và văn phòng đại diện tổ chức quốc tế. Tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá trong nửa thế kỷ qua, TP.HCM đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Trong 40 năm đổi mới, TP.HCM luôn là một trong những địa phương đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Từ một đô thị chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, TP.HCM từng bước khôi phục sản xuất, ổn định đời sống người dân, giữ vững thành quả cách mạng, xây dựng chính quyền, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo nền tảng cho phát triển lâu dài. "50 năm qua, TP.HCM đã viết nên trang sử vẻ vang, rực rỡ tên vàng. 50 năm tới, thành phố phải viết tiếp một chương phát triển mới, lớn hơn, đẹp hơn, xứng đáng hơn, rực rỡ hơn", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định.
Câu chuyện: Bác Hồ Thăm Vườn Hoa Nghìn Việc Tốt (Trích 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - NXB Sự thật) #hocBacquacauchuyenke #phuongCauOngLanh
Câu chuyện: "Thi đua về lòng yêu nước thì ta thắng" (Trích 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - NXB Sự thật) #hocBacquacauchuyenke #phuongCauOngLanh
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chỉ thị nêu rõ, qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu; chưa chú trọng đúng mức việc thực hành và vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ nhân dân. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Việc học tập, thực hành theo Bác phải gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ và phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân; thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tôn trọng, lắng nghe và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân; góp phần xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Thứ hai, gắn việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và trách nhiệm thực thi công vụ văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên; cốt lõi là vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; tập trung tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển. Thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thứ ba, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Trung ương Đảng. Thứ tư, đổi mới công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng hệ thống dữ liệu, học liệu số phục vụ việc học tập, thực hành theo Bác. Đồng thời, tập trung nghiên cứu, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của Di sản Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới; nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tăng cường kỷ luật phát ngôn và văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng. Thứ năm, chuyển mạnh việc kiểm tra, giám sát từ xây dựng kế hoạch, đăng ký sang đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc, mức độ hài lòng của nhân dân và những chuyển biến thực tế trong đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, gắn với thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trì trệ. Về tổ chức thực hiện, chỉ thị yêu cầu lấy kết quả thực hiện cam kết làm căn cứ đánh giá, xếp loại đảng viên và quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Ban Tổ chức Trung ương bổ sung tiêu chí học tập, thực hành theo Bác vào khung đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm; coi đây là tiêu chí quan trọng trong công tác cán bộ. Theo SGGP Info: TTXVN